Chủ nhật, ngày 18 tháng mười năm 2009

Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam/Chương XI

Cắt đất, cắt biển dâng cho Tàu là tội phản bội Tổ Quốc. Sử dụng, sai khiến quân đội, công an trá hình làm côn đồ để đàn áp nhân dân là tội khủng bố.
Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam/Chương XI

Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc
1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Điều 80. Tội gián điệp
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;
c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự.
Điều 81. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Điều 82. Tội bạo loạn
Người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Điều 83. Tội hoạt động phỉ
Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển, vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Điều 84. Tội khủng bố
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khoẻ, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này.
Điều 85. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Điều 86. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội, thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.
Điều 87. Tội phá hoại chính sách đoàn kết
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:
a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực luợng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;
d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Điều 89. Tội phá rối an ninh
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 82 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Điều 90. Tội chống phá trại giam
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá trại giam, tổ chức vượt trại giam, đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải hoặc trốn trại giam, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
Điều 91. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
1. Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.
2. Người tổ chức, người cưỡng ép, người xúi giục thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Điều 92. Hình phạt bổ sung
Người phạm tội quy định tại Chương này còn có thể bị tước một số quyền công dân từ một năm đến năm năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ một năm đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thứ bảy, ngày 17 tháng mười năm 2009

Luật rừng

Như Đồng

Luật rừng là nói theo cách nói dân gian, bửa nay người ta còn nói là xã hội đen, maphia… nôm na đại khái như vậy.
Có một điều lạ nghen là từ “luật rừng” hổng thấy trong các từ điển tiếng Việt, điều này là mình khám phá đó nha. Nhưng khi nói luật rừng thì ai cũng hiểu đó là sự sai trái, bạo ngược, gián trá, thủ đoạn bất chấp đạo lý…
Một lần tôi ghé thăm một thầy giáo cũ đã về hưu thầy dặn: “Xã hội này còn nhiều luật rừng lắm nên con phải biết thân biết phận mà giữ gìn”. Từ “ luật rừng ” đó cứ ám ảnh tôi đến ngày hôm nay.
Luật pháp của một chế độ dân chủ và tiến bộ bao giờ cũng xây dựng trên nền tảng đạo đức, nguyện vọng và quyền lợi của người dân, những gì ngược lại ta có thể coi là luật rừng.
Các thế hệ ông bà tôi, cô gì chú bác tôi họ có quá nhiều điều sợ hải, quá nhiều điều cấm kỵ, có quá nhiều sự thật được giấu kín và có những nhận thức họ vẫn phải âm thầm bí mật truyền dạy cho con cháu vì họ sợ hải một thế lực nào đó gọi là luật rừng.
Ta có thể nói nạn cơm tù, nạn chấn lột những ô tô chở hàng hóa khi chẳng may xe bị hỏng ở vùng Thanh Nghệ Tỉnh, nạn kiêu binh thời Lê là dùng luật rừng. Đó là những thứ luật rừng của dân gian, và Việt Nam mình còn biết bao nhiêu truyền thuyết mà gọi là luật rừng khác nữa.
Nhìn lại sự việc cái chết của Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa bên cạnh chúng ta đó cũng là hành vi cư xử luật rừng. Lưu Thiếu Kỳ bị đấu tố, đánh đập, tra tấn, cầm tù, bỏ đói đến chết. Sự việc này là kiểu mẩu,là kinh điển của luật rừng cho toàn thế giới.
Cải cách ruộng đất bao nhiêu người bỏ mạng oan ức, cải tạo tư sản làm cho nhiều người khánh kiệt tù đày, tịch thu nhà cửa của những người vượt biên đó là những bằng chứng trong lịch sử Việt Nam không phải là luật rừng đó sao!?. Bây giờ Việt Nam mình rất nhiều người giàu có, rất nhiều người thật sự là những tư sản thì nhìn lại lịch sử thật vô cùng sợ hải.
Nạn phe phái trong giới cầm quyền, bảo vệ quyền lợi cá nhân, tranh giành địa vị họ sẵn sàng lập lên hiện trường giả, vu khống, thủ tiêu bỏ tù người bất đồng chính kiến với các chiêu bài như tiết lộ bí mật quốc gia, tham nhũng, tuyên truyền chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa… Những việc đó so với một nước dân chủ và tiến bộ thì đó là những điều bẩn thỉu nhưng so với lịch sử đã từng trãi qua thì có thấm thía gì đâu.
Việt Nam chúng ta là một trong những vùng đất còn nhiều lợi thế cho luật rừng lộng hành vì chúng ta thiếu trung thực với lịch sử, còn nhiều gian dối với lịch sử, không nhận thức đúng, không chân thật trước những sai lầm của lịch sử, những tội ác của lịch sử bị che lấp chối bỏ và không bị lên án công bố rộng rãi, không tôn trọng và chà đạp lên quyền lợi của cộng đồng.Và khi một lãnh đạo Việt Nam phát biểu những điều trái ngược với khuynh hướng tiến bộ của loài người, trái ngược với những cam kết mà nhà nước Việt Nam đã ký với Liên Hợp Quốc, gian trá với sự thật và với lịch sử thì đó là những điều đáng xấu hổ gây căm phẫn trong cộng đồng.
Vụ đàn áp sinh viên học sinh biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn mùa xuân 1989 là trong những hành xử luật rừng tệ hại nhất. Gần mười ngàn người bị giết bằng xe tăng và súng máy, chính quyền cọng sản Trung Hoa đã phi tang bằng cách tịch thu các xác chết tập trung thiêu thành tro bụi, những xe vòi rồng tẩy rửa tội ác xuống những cống rãnh mà máu của họ tụ thành huyết dày đến 10 cm. Và chưa một nước nào trên thế giới có một tập đoàn tội ác chuyên nghiệp và đồ sộ đến thế. Những tên tội phạm Thiên An Môn chừng nào chưa được đem ra xét xử về những tội ác chống lại loài người thì đó là những thách thức của nhân loại tiến bộ.
Người Việt Nam chúng ta và trong giới cầm quyền chưa thật sự thấu hiểu khái niệm cùng chung sống hòa bình, cái giọng điệu “ diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, phản động” vẫn ra rả phát ra từ miệng của những nhà lãnh đạo, với họ không gì hơn quyền lợi cá nhân đang tạm thời nắm giữ là trên hết,làm gì có khái niệm dân tộc, tổ quốc và sự tiến bộ của quốc gia. Và uy tín của lãnh đạo Việt Nam vẫn là những câu hỏi lớn khi người dân chưa được chính tay mình bầu lên. Câu khẩu hiệu: “ Sống và làm việc theo gương chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong khi đó ông Hồ Chí Minh là vị chủ tịch nước đầu tiên được bầu lên do chính lá phiếu trực tiếp của người dân Việt Nam.
Người Việt Nam biết bảo vệ mình ở đâu khi bên cạnh luật pháp còn quá nhiều điều cấm kỵ vô lý, quá nhiều điều đen tối, còn quá nhiều những luật rừng.
Xóa bỏ luật rừng là một thách thức của mọi người dân Việt Nam, nó là một nhu cầu tất yếu cho sự bền vững và hưng thịnh của đất nước. Uy tín của quốc gia Việt Nam ở đâu, danh dự người Việt Nam ở đâu khi ở đây còn đầy dẫy những luật rừng.

Thứ năm, ngày 15 tháng mười năm 2009

Internet


Bây giờ mà nghĩ về những tiện ích mà internet đã mang lại trong những năm gần đây quả là những điều kỳ diệu. Những chuyện mang tính huyền thoại cổ tích từ xa xưa của loài người đã trở thành hiện thực.
Nếu trước đây tôi thường đọc những thông tin trên sách báo giấy, giờ thì những thói quen đó gần như bỏ hẳn, tôi tìm đọc những thông tin đó trên internet, ở đây tôi còn có thể kiểm chứng những thông tin một cách nhanh chóng ở những nguồn có uy tín.
Thông tin trên internet không còn là những thông tin một chiều như trên sách báo cổ điển, những gì gì diễn ra trên internet mang tính đa chiều. Người đọc có thể góp ý, nhận xét, phản bác…trực tiếp một cách nhanh chóng. Những sai trái vì thế cũng được chỉnh sửa kịp thời.
Internet là một môi trường học tập tốt, những thông tin không chỉ gói gọn trong ngôn ngữ của bạn mà qua các công cụ chuyển ngữ, các từ điển trực tuyến, và bạn cũng có thể cập nhật những yêu cầu của bạn. Qua internet ta có thể lưu trữ, in ấn với chất lượng rất cao.
Internet công bằng với tất cả mọi người, nếu như bạn có tài năng bạn vẫn tỏa sáng. Internet cho bạn tạo những website hoàn toàn miễn phí được gọi là blog với công nghệ hàng đầu của thế giới như Youtube, blogger, yahoo… và tiếng nói của cá nhân bạn cũng có ý nghĩa như website như của các tổ chức và cũng được nhận diện trên các công cụ truy tìm.
Qua internet bạn hưởng được những quyền lợi như mail, chat, tin nhắn, webcam, những hình ảnh, âm thanh, video hầu như được truyền đi ngay lập tức. Qua dịch vụ chat của yahoo bạn có thể nói chuyện, viết thư, và hình ảnh được truyền đi qua webcam hoàn toàn miễn phí. Dịch vụ kèm file trong gửi mail giúp bạn dễ dàng gửi đi và lưu trữ tài liệu, hình ảnh, âm thanh, video trên mạng internet. Việc lưu trữ tài liệu trên mạng internet có độ an toàn cao và tiện nghi là có thể lấy xuống sử dụng ở bất cứ nơi nào có thể.
Internet còn là sân chơi giải trí tuyệt vời. Ở đó bạn có thể tìm ra nơi đáp ứng những sở thích riêng của mình, kết giao bè bạn.
Internet còn quá mới mẻ với một số người.Nhưng internet bây giờ ở Việt Nam đã đến tận những miền quê hẻo lánh, xa xôi. Các công ty điện thoại cũng có những ưu đãi về giá cước ở những vùng này, nghĩa là người dùng internet ở đây rẻ hơn rất nhiều ở các đô thị. Dịch vụ ở đây cũng rất tốt.
Internet là phương tiện toàn diện, toàn dân và đa chiều truyền đi những thông tin, nên internet hiện hữu và hiển nhiên là kẻ thù của các chế độ độc tài, phi dân chủ. Internet vô hiệu hóa những thông tin độc đoán là công cụ của các chế độ chuyên chính và đưa đến những thông tin trung thực cho mọi người.
Tường lửa là một trở ngại được dựng lên để hạn chế những thông tin bất lợi của các chế độ độc tài. Và sự ra đời những phần mềm vượt tường lửa giúp người đọc dễ dàng truy cập các trang web bị chặn. Tường lửa bản chất nó là sự trì trệ xấu xa của một chế độ. Internet sẽ và đang và đã làm cho sự chuyên chính tự nó tan rã trước sự giác ngộ của người dân.
Internet làm cho các dân tộc thấu hiểu và tôn trọng những khác biệt của nhau. Internet làm cho mọi người gần gủi với nhau. Internet thúc đẩy nhanh chóng quá trình toàn cầu hóa.

Thứ tư, ngày 07 tháng mười năm 2009

Tuyên ngôn tôi viết cho tôi

Tôi – một gã đã hái một mùa quả trong vườn cấm
Tôi đã chịu những cú nốc ao của lòng ganh tị và những trò hèn hạ.
Tôi đã hiểu sự cằn cỗi của tự do và vị mặn chát của nước mắt.


Tôi – một gã đói khổ chối từ những bữa tiệc tùng trong cái không gian ràng buộc.
Tôi – một gã lang thang khước từ sự thành công trong các lâu đài nô lệ.


Tài năng : bản thân nó mang những giá trị thành công mà không cần sự ban phát.
Chân lý : bản thân nó mang những ý nghĩa đẹp đẽ mà không cần cầu xin sự vinh quang.


Trên những bậc thang danh vọng lắm kẻ tự chôn mình trong sự dối trá.
Trên con đường vượt qua những vực sâu của số phận tôi chưa phản bội mình.


Trong thế giới đau khổ và tàn khốc có thể biến những con người tử tế trở thành dã thú.
Tôi là con người
Trong đêm đen nghiệt ngã của số phận
Tôi là mặt trời của tôi.

1994

Chủ nhật, ngày 30 tháng tám năm 2009

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)

LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,
Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,
Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,
Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,
Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.
Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.
Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.
Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.
Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.
Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.
Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.
Điều 11:
Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.
Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 13:
Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.
Điều 14:
Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 15:
Ai cũng có quyền có quốc tịch.
Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.
Điều 16:
Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.
Điều 17:
Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.
Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20:
Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
Điều 21:
Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.
Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.
Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.
Điều 23:
Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.
Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.
Điều 25:
Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.
Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.
Điều 26:
Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.
Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.
Điều 27:
Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.
Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
Điều 29:
Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.
Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.
* * *
Nhà nước Việt Nam đã ký kết Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cùng các văn kiện dưới đây:
-“ Ước Chương Quốc Tế chấm dứt các hình thức kỳ thị chủng tộc” ( Nghị quyết 1904 D-HD-/LHQ ngày 20/11/1963)”- “ Ước Chương Quốc Tế về các quyền Tự Do, Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa” ( Nghị quyết 2200A của D-HD-/LHQ ngày 16/12/1966)- “ Ước Chương Quốc Tế Dân Quyền và Tự Do Chính Trị ( Nghị quyết 2200A của D-HD-/LHQ ngày 16/12/1966, có hiệu lực ngày 23/7/1976.)
Địa chỉ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Đặc Trách Nhân Quyền
( The Office of the High Commissioner for Human Rights – United Nations High Commissioner for Human Rights )
Mailing Address:
OHCHR- UNOG
CH 1211 Geneva 10, Switzerland
Tel: (4122) 917-9000
Fax: (4122) 917-9016
E-mail: Webadmin.hchr@unog.ch
Website: http://www.unhchr.ch/html/hchr.htm